Nhà hàng No.1

Nhà hàng No.1 Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Nhà hàng No.1, Restaurant, Số 3, Đường Lê Thanh Nghị, P. Hiến Nam, TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, Hung Yen.

Nhà hàng No.1 là địa chỉ ăn uống số 1 TP Hưng Yên chuyên Gà đông tảo và Ngỗng đủ các món ngon - giá cả hợp lý - phục vụ tận tình - view đẹp và rộng rãi thoáng mát

18/08/2024

ĐẠI ĐOÀN KẾT PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC QUÊ HƯƠNG

Trong khí thế sục sôi của những ngày Tháng Tám 79 năm trước, người Hải Phòng cùng cả nước vùng dậy đập tan ách thống trị của phát-xít Nhật - thực dân Pháp, xóa bỏ thân phận thuộc địa gần 100 năm và chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm, giành chính quyền về tay nhân dân, đưa đất nước Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân Việt Nam từ phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, mốc son trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám là biểu tượng tuyệt vời của đại đoàn kết toàn dân tộc, của tinh thần, ý chí, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng để đi đến thắng lợi là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, gian khổ của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thành công của Cách mạng Tháng Tám để lại nhiều bài học quý báu, trong đó bài học lớn nhất là phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc với sức mạnh thời đại.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám kết tinh 15 năm đấu tranh kiên cường bất khuất của cả dân tộc, kể từ khi Đảng ra đời và đảm nhiệm trọng trách, sứ mệnh lãnh đạo. Đây chính là thắng lợi của đại đoàn kết toàn dân tộc, biết tạo thời cơ và biết chớp thời cơ. Đảng ta đã xây dựng và phát huy cao độ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên cao trào cách mạng rộng khắp, mạnh mẽ chưa từng thấy với đông đảo lực lượng tham gia, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, mọi thành phần kinh tế, mọi giới và mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Trước lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh, toàn dân nhất tề vùng lên giành chính quyền, giải phóng dân tộc, giai cấp và xã hội.

Bài học đó tiếp tục được nhân dân ta vận dụng, phát huy cao độ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, lập nên những kỳ tích “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Từ một thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, đến nay Việt Nam đang phát triển nhanh, ngày càng “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; hệ thống chính trị, xã hội ổn định; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Trong thế giới nhiều biến động, cạnh tranh, thách thức, Việt Nam luôn chọn chính nghĩa, lẽ phải, được bạn bè trân quý, tin cậy. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Trong chặng đường vẻ vang 79 năm kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hải Phòng đóng góp xứng đáng vào mọi thành tựu của đất nước, nhân dân ta. Là vùng đất “phên dậu” bên bờ biển Đông Bắc của Tổ quốc, có truyền thống yêu nước từ thuở Nữ tướng Lê Chân khai mở, một trong những cái nôi hình thành giai cấp công nhân Việt Nam, với khát vọng độc lập dân tộc cháy bỏng, nhân dân Hải Phòng đoàn kết, một lòng đi theo ngọn cờ của Đảng từ khi thành lập. Cùng cả nước, người Hải Phòng vùng dậy tổng khởi nghĩa với “Tiếng trống Kim Sơn” mở đầu, xây dựng chính quyền nhân dân; oanh liệt đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ để giữ vững nền độc lập, tự do của đất nước.

Tinh thần đoàn kết, khí chất quyết liệt, sáng tạo của người Hải Phòng tiếp tục được phát huy cao độ trong thời kỳ đổi mới, kết hợp với sự vận dụng khéo léo những bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học của Cánh mạng Tháng Tám. Cán bộ, đảng viên và nhân dân thành phố luôn đoàn kết một lòng, tất cả vì sự phát triển lớn mạnh của quê hương thân yêu. Thành ủy, cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp luôn đổi mới sáng tạo, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ chính trị, nhất là nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với nhiều giải pháp sáng tạo. Trong đó, quan trọng nhất là xây dựng khối đại đoàn kết vững chắc, phát huy nội lực để phát triển quê hương. Từ đây, Hải Phòng thể hiện mạnh mẽ ý chí quyết tâm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để bứt phá, lập nên nhiều kỳ tích, là một trong số địa phương dẫn đầu cả nước về tăng trưởng GRDP, liên tục đạt mức 2 chữ số từ năm 2015 đến nay. Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng, Nghị quyết số 30 của Bộ Chính trị về phát triển Vùng đồng bằng sông Hồng khẳng định vai trò, vị thế thành phố là địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, động lực tăng trưởng của cả nước. Cùng với sự hỗ trợ, giúp đỡ của Trung ương, thành phố chủ động đề xuất, xây dựng những cơ chế, chính sách riêng có, vượt trội; kịp thời nắm bắt, khai thác cơ hội mang xu thế thời đại như Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, ch.uyển đ.ổi s.ố, sự chuyển dịch các luồng đầu tư công nghệ cao..., thu hút mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh, bền vững hơn nữa.

Dù còn phải đối mặt nhiều khó khăn, thách thức, với khí thế Cách mạng Tháng Tám luôn đồng hành cổ vũ, bằng tinh thần đại đoàn kết, sự chung sức đồng lòng, nhân dân Hải Phòng đang vững vàng về đích sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng thành phố quê hương văn minh, hiện đại, sánh tầm thế giới./.

Báo Hải Phòng điện tử

18/08/2024
18/08/2024

NỖ LỰC GÌN GIỮ BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC HÒA BÌNH, HỮU NGHỊ, HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN

Năm nay đánh dấu 25 năm, Việt Nam và Trung Quốc ký Hiệp ước biên giới trên đất liền và 15 năm ký 3 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc (Nghị định thư phân giới cắm mốc; Hiệp định về quy chế quản lý biên giới; Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu).

Thành tựu lịch sử này đặt nền tảng pháp lý, chính trị để hai nước duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh, quốc phòng... đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước.

Sự kiện lịch sử trọng đại trong quan hệ Việt -Trung

Với mục tiêu xác lập đường biên giới rõ ràng giữa hai nước, từ năm 1974 đến 1979, Việt Nam và Trung Quốc đã ba lần đàm phán biên giới lãnh thổ, nhưng không đạt được kết quả do hai bên có lập trường, quan điểm khác xa nhau. Sau khi bình thường hóa quan hệ, từ tháng 10/1992, hai bên đàm phán lần thứ tư về biên giới lãnh thổ. Tháng 10/1993, hai bên đạt được Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam – Trung Quốc, đồng ý lấy các Công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895 cùng các văn kiện, bản đồ hoạch định, cắm mốc biên giới kèm theo làm căn cứ để xác định lại đường biên giới Việt – Trung; các khu dân cư hai bên đã sinh sống lâu đời thì duy trì cuộc sống ổn định của dân cư; đối với những đoạn biên giới sông suối thì giải quyết theo nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Ngày 30/12/1999 tại Hà Nội, sau 8 năm kiên trì đàm phán trong bối cảnh biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc (gọi tắt là Hiệp ước 1999) được ký kết, đặt nền tảng quan trọng cho việc xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị và ổn định lâu dài giữa hai nước.

Hiệp ước 1999 mới chỉ xác định đường biên giới bằng lời văn và trên bản đồ. Để có thể xác định rõ ràng đường biên giới, hai bên cần tiến hành phân giới cắm mốc, chuyển đường biên giới từ lời văn trong Hiệp ước và bản đồ ra thực địa. Đến cuối năm 2008, công tác phân giới cắm mốc cơ bản hoàn thành. Kết quả là chiều dài biên giới chính xác là 1.449,566 km, cắm được 1.970 cột mốc, trong đó có 1.548 cột mốc chính, 422 cột mốc phụ. Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới trên đất liền tiếp giáp giữa 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh của Việt Nam với tỉnh Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc.

Sau khi hoàn thành phân giới cắm mốc, để hợp tác bảo vệ, quản lý biên giới và mốc quốc giới, năm 2009, tại Bắc Kinh (Trung Quốc), đại diện Chính phủ hai nước đã ký 3 văn kiện pháp lý về biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc. Ngày 14/7/2010, 3 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc có hiệu lực và hai nước chính thức quản lý đường biên giới đất liền theo các văn kiện pháp lý mới.

Từng trực tiếp tham gia các đàm phán biên giới Việt Nam - Trung Quốc ngay sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ và là người đầu tiên ở châu Á dịch Công ước Luật Biển 1982 của Liên hợp quốc, Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ cho biết, tranh chấp biên giới đất liền giữa các quốc gia là một loại tranh chấp quốc tế phổ biến thường được ưu tiên giải quyết sau khi quan hệ ngoại giao đã được thiết lập. Việt Nam và Trung Quốc đã giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ thông qua đàm phán hòa bình, phù hợp với các nguyên tắc của luật quốc tế, trên cơ sở điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế, với một tinh thần thật sự khiêm tốn, vì các quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên, cùng nhau xử lý các bất đồng, tranh chấp theo đúng các nguyên tắc pháp lý đã thỏa thuận.

“Có thể nói rằng, thành tựu này còn là một đóng góp có giá trị cho thực tiễn quốc tế, một phần không thể tách rời của Công pháp quốc tế, để giải quyết các tranh chấp biên giới, lãnh thổ quốc gia”, Tiến sỹ Trần Công Trục nhấn mạnh.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia, Bộ Ngoại giao nhận định: Việc hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc không phải là kết quả của sự nôn nóng, vội vã mà thành quả này có được là do khả năng nắm bắt thời cơ để kết thúc có lợi và sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo cấp cao hai nước, những nỗ lực không mệt mỏi của hai đoàn đàm phán cấp Chính phủ cũng như các chuyên gia, đại diện ngành hữu quan các tỉnh có chung biên giới... Kết quả này là sự thể hiện sinh động của mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc, đóng góp tích cực đối với hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực.

Quản lý, xây dựng đường biên giới hữu nghị

Trong suốt 25 năm qua, hai nước Việt Nam, Trung Quốc đã không ngừng nỗ lực, gìn giữ đường biên giới hòa bình, ổn định, góp phần tích cực thúc đẩy hợp tác, duy trì đà phát triển tích cực của quan hệ hai nước lên tầm cao mới, đồng thời chứng minh Hiệp ước 1999 và việc hoàn thành phân giới cắm mốc, thực hiện 3 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền là một thành công có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, mở ra một trang mới trong quan hệ hai nước.

Trả lời phỏng vấn báo chí ngày 15/8, Đại sứ Trung Quốc Hùng Ba nhấn mạnh: “Hai bên đã thực hiện tốt Hiệp ước biên giới trên đất liền Trung Quốc – Việt Nam, nhân dân ở biên giới hai nước an cư lạc nghiệp, sống chung hài hòa, gắn bó như anh em một nhà. Khu vực biên giới Trung Quốc - Việt Nam đã trở thành khu vực biên giới hòa bình nhất, ổn định nhất, hài hòa nhất, giao lưu thương mại và nhân viên đi lại sôi nổi hàng đầu trên thế giới. Tôi vẫn nhớ rất rõ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tháng 8 năm ngoái đến cửa khẩu Hữu Nghị - Hữu Nghị Quan khảo sát và đã nhấn mạnh rằng trên thế giới chỉ có duy nhất khu vực biên giới ở đây đặt tên cửa khẩu bằng hai chữ “Hữu Nghị”, là “có một không hai” trên thế giới; thể hiện sinh động cảnh tượng giao lưu hữu nghị tại khu vực biên giới hai nước. Một khu vực biên giới hòa bình, an ninh rất đáng để chúng ta tự hào”.

Theo Báo cáo Tổng quan tình hình quản lý, bảo vệ biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc từ sau khi 3 văn kiện pháp lý có hiệu lực cho đến nay của Ủy ban Biên giới quốc gia, thực tiễn những năm qua cho thấy đường biên giới hòa bình, ổn định đã góp phần tích cực thúc đẩy hợp tác, phát triển tại khu vực biên giới, hoạt động trao đổi thương mại qua các cửa khẩu biên giới phát triển mạnh mẽ.

Các hoạt động giao lưu hữu nghị giữa các lực lượng chức năng quản lý biên giới hai nước được các bộ, ngành và địa phương tích cực triển khai. Hoạt động đối ngoại quốc phòng, đối ngoại biên phòng, đối ngoại nhân dân được đẩy mạnh, phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức, từ năm 2010 đến nay đã tổ chức 8 lần “Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc" và 3 lần “Giao lưu biên cương thắm tình hữu nghị", qua đó xây dựng quan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác, phối hợp công tác hiệu quả giữa các lực lượng chức năng quản lý, bảo vệ biên giới hai nước Việt - Trung.

Ở cấp địa phương biên giới, các hoạt động đối ngoại nhân dân, giao lưu, thăm hỏi lẫn nhau nhân các dịp lễ, Tết truyền thống được tổ chức thường xuyên; hoạt động giao lưu hữu nghị với nhiều hình thức phong phú như kết nghĩa thôn - bản, đồn - trạm, cùng nhau xây dựng biên giới bình yên, hữu nghị... đạt kết quả nổi bật, chính quyền địa phương biên giới hai bên đã ký kết nghĩa 67 cặp cụm dân cư hai bên biên giới. Các cơ chế hợp tác địa phương biên giới được tổ chức định kỳ, linh hoạt (kể cả trong thời gian dịch COVID-19), qua đó đề xuất và phối hợp triển khai thực hiện hiệu quả, thực chất nhiều nội dung hợp tác quản lý, bảo vệ biên giới.

Với những kết quả tích cực trong quản lý, bảo vệ cũng như giao lưu thương mại, hữu nghị biên giới hai nước Việt - Trung, thời gian tới, theo Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Lê Hoài Trung, hai nước sẽ “cùng trao đổi tạo ra những định hướng lớn, tạo sự chuyển biến, đưa đường biên giới hòa bình ổn định Việt Nam - Trung Quốc trở thành đường biên giới hợp tác, phát triển vững chắc, có tính tới các xu thế lớn trong khu vực và trên thế giới hiện nay. Chúng ta sẽ tiếp tục phối hợp tích cực với phía Trung Quốc để nỗ lực lớn hơn nữa, góp phần xây dựng đường biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc thực sự trở thành một đường biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đem lại sự phát triển kinh tế - xã hội, cuộc sống thanh bình, yên ổn, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân hai nước, nhất là nhân dân các địa phương biên giới”./.

TTXVN

18/08/2024

PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

Kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12-12-2013 về “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”, hoạt động phản biện xã hội đã được Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội triển khai thực hiện trong cả nước, đạt nhiều kết quả tích cực. Song, thực tiễn cũng cho thấy còn một số hạn chế cần khắc phục. Bài viết làm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội.

1. Ý nghĩa, tầm quan trọng của phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta

Trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng XHCN, xây dựng, mở rộng và phát huy dân chủ, Đảng ta ngày càng nhận thức rõ vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (CT-XH) trong hệ thống chính trị. Đại hội X của Đảng (năm 2006) chủ trương: “Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”(1). Nghị quyết số 25 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI (tháng 6-2013) tiếp tục khẳng định: “Sớm ban hành và thực hiện tốt quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, quy định để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh”(2).

Đây là điều cần thiết, vì khác với nhiều nước theo chế độ đa đảng, ở đó việc đấu tranh, chỉ trích lẫn nhau là việc hằng ngày của các đảng chính trị nhằm kiểm soát và cạnh tranh quyền lực, tranh giành sự ủng hộ của cử tri đối với chính sách của đảng. Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên giám sát, phản biện xã hội của MTTQ và các tổ chức CT-XH có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó là một hình thức để thực hiện dân chủ XHCN, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước, làm cho đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn, phù hợp với thực tiễn cuộc sống, luôn vì lợi ích của nhân dân, Tổ quốc.

Thực tiễn cho thấy, trong quá trình xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các văn bản trước khi ban hành, mặc dù đã trải qua nhiều bước thảo luận, trao đổi, góp ý trong nội bộ các cơ quan đảng, nhà nước, song vẫn rất cần có các ý kiến đóng góp, nhận xét, phản biện từ phía xã hội. Thực hiện điều này không gì bằng phát huy vai trò của Mặt trận và các tổ chức CT-XH, tổ chức tập hợp rộng rãi các giới, các tầng lớp nhân dân ở Việt Nam.

Sau một thời gian nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” tại Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12-12-2013.

Theo Quy chế, “Phản biện xã hội là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước”. Đối tượng phản biện xã hội là: “Các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình”.

Chủ thể của phản biện xã hội là “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở, bao gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh”.

Mục tiêu của phản biện xã hội là “nhằm phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp trong các văn bản dự thảo của các cơ quan đảng, nhà nước; kiến nghị những nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội”.

Nội dung phản biện xã hội là chỉ ra “Sự cần thiết, tính cấp thiết của văn bản dự thảo; sự phù hợp của văn bản dự thảo với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thực tiễn của đơn vị, địa phương. Tính đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính khả thi của văn bản dự thảo. Dự báo tác động, hiệu quả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của văn bản dự thảo”.

Như vậy, phản biện xã hội nhằm góp phần làm cho đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đúng đắn hơn, phản ánh được nguyện vọng, ý chí, lợi ích của các tầng lớp nhân dân, đồng thời thể hiện rõ tính ưu việt của nền dân chủ XHCN.

Phản biện xã hội ở Việt Nam là hình thức thực hiện dân chủ trong nội bộ hệ thống chính trị một cách có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng. Chính vì nó là hoạt động hợp pháp, có tổ chức, có sự lãnh đạo nên rất cần ý thức và trách nhiệm cao của hệ thống chính trị các cấp, bao gồm cấp ủy đảng, cơ quan chính quyền và các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội được trao quyền phản biện xã hội, bởi có như vậy, phản biện xã hội mới tránh rơi vào hình thức, bảo đảm chất lượng, hiệu quả thực sự, làm cho mọi đường lối, chủ trương, chính sách khi đã ban hành đều thực sự vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, vì hạnh phúc của người dân.

Trong bối cảnh hiện nay, thực hiện tốt phản biện xã hội của MTTQ và các tổ chức CT-XH là một cách thiết thực để bác bỏ luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và sự hoài nghi của không ít người về dân chủ trong cơ chế một đảng lãnh đạo, cầm quyền ở nước ta, mà theo họ cần phải có đảng đối lập, cần sự phê phán, chỉ trích, phủ định lẫn nhau giữa các đảng thì mới kiểm soát được quyền lực, mới có dân chủ, nhà nước pháp quyền...

2. Thực trạng hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị về “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTƯMTTQVN ngày 15-6-2017 quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam. Đây là văn bản hướng dẫn cụ thể MTTQ và các tổ chức CT-XH tiến hành phản biện xã hội đối với các văn bản của các cơ quan chính quyền cùng cấp.

Theo báo cáo của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, ngay trong năm đầu thực hiện Nghị quyết liên tịch, riêng về phản biện xã hội, Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trong cả nước đã tổ chức được 15.745 cuộc phản biện xã hội thông qua các hình thức tổ chức hội nghị, gửi dự thảo văn bản phản biện, tổ chức đối thoại trực tiếp, điển hình như: Hà Nội (3.131 cuộc), Nghệ An (1.340 cuộc), Nam Định (1.126 cuộc), Quảng Nam (794 cuộc)(3).

Ở Trung ương, ngay sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã tổ chức phản biện xã hội đối với 11 dự án luật, hầu hết đều liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của công dân, có ảnh hưởng lớn đối với đời sống xã hội và được nhân dân quan tâm như dự thảo Luật Đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt, dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi), dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo; tổ chức hội nghị phản biện xã hội đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi), dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo...(4)

Sau hai năm bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, năm 2022, MTTQ Việt Nam các cấp đã khôi phục lại hoạt động phản biện xã hội. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu, đóng góp ý kiến đối với 16 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đề án về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó có các dự án luật quan trọng, như dự án Luật Đất đai sửa đổi, dự thảo Luật Thanh tra, dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, dự thảo Quy hoạch tổng thể quốc gia. Ngày 24-8-2022, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức Hội nghị góp ý, đề xuất hướng khắc phục những vướng mắc, bất cập của Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, Luật Chứng khoán năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thực hiện(5). Qua các hội nghị phản biện đó, Ban biên soạn đã sửa đổi, bổ sung nhiều điểm quan trọng trong các dự thảo.

Theo đánh giá của MTTQ và các tổ chức CT-XH cũng như từ các cấp ủy đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương, hoạt động phản biện xã hội của MTTQ các cấp đã đem lại hiệu quả đáng kể về mặt phát huy dân chủ, góp phần thiết thực làm cho các dự án luật, các chương trình, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các văn bản pháp lý của Chính phủ, các bộ và chính quyền ở nhiều địa phương thêm hoàn thiện cả về cơ sở khoa học và thực tiễn.

Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động phản biện xã hội thời gian qua cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập:

Số lượng các cuộc phản biện ở mỗi cấp còn ít, nhất là ở các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa. Ủy ban MTTQ cấp tỉnh trong cả nước trung bình chỉ tổ chức được không quá 3 cuộc phản biện, ít có tỉnh tổ chức được nhiều hơn. Ở cấp huyện, xã lại càng ít hơn. Chỉ có đợt sinh hoạt chính trị trong toàn quốc đóng góp ý kiến vào dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 2013, dự thảo Văn kiện Đại hội XII (năm 2016), Đại hội XIII (năm 2021) là được tổ chức quy mô lớn với đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

Hầu hết đối tượng phản biện ở cấp địa phương là dự thảo nghị quyết của HĐND tỉnh, huyện, không có nhiều các cuộc phản biện chuyên đề nhằm vào những đề án quy hoạch, chiến lược phát triển, sử dụng tài nguyên, đất đai, kinh phí, ngân sách hoặc tuyển dụng, sử dụng công chức, viên chức... của địa phương.

Hình thức phản biện chủ yếu là gửi văn bản dự thảo đến các chủ thể phản biện mà nòng cốt là thành viên các hội đồng tư vấn của Ủy ban MTTQ để lấy ý kiến đóng góp, tổng hợp thành văn bản gửi đến cơ quan đề nghị phản biện. Các hội nghị phản biện rất ít khi có đại diện lãnh đạo của cơ quan soạn thảo văn bản và càng ít có hội nghị đối thoại của cơ quan soạn thảo với thành viên của hội đồng phản biện.

Các tổ chức CT-XH ở nhiều địa phương, nhất là các hội khoa học kỹ thuật hoặc văn học nghệ thuật tham gia vào phản biện xã hội còn chưa thực sự chủ động.

Các cuộc phản biện xã hội dù dưới bất kỳ hình thức nào theo quy định, đều giống với việc lấy ý kiến đóng góp để hoàn chỉnh văn bản hơn là phản biện đúng nghĩa. Không ít trường hợp cả văn bản hoặc những điểm quan trọng của văn bản dù không nhận được sự đồng tình của đa số thành viên phản biện vẫn được ban hành với những sửa chữa không đáng kể.

Nguyên nhân của tình trạng trên từ cả hai phía. Phía cấp ủy đảng, chính quyền ở nhiều địa phương chưa thực sự coi trọng phản biện xã hội nên việc lấy ý kiến phản biện của MTTQ còn mang tính hình thức. Có những dự thảo rất cần được phản biện vì liên quan tới những vấn đề nhạy cảm, dễ gây bức xúc nhưng không được tổ chức phản biện. Cũng có khi do cơ quan dự thảo văn bản bị chậm tiến độ nên tiến hành phản biện một cách vội vàng, chuẩn bị thiếu chu đáo, ảnh hưởng tới chất lượng phản biện.

MTTQ và các tổ chức CT-XH nhiều địa phương còn hạn chế, yếu kém về năng lực nên không chủ động tổ chức phản biện. Có nơi tích cực, chủ động thì lại thiếu điều kiện bảo đảm, chẳng hạn nhân lực, kinh phí, thời gian nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội nên ảnh hưởng tới chất lượng phản biện. Thậm chí, ý kiến phản biện mang tính cá nhân của người phản biện nhiều hơn mà chưa thực sự thể hiện tính xã hội, tức là chưa phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân địa phương.

3. Để phản biện xã hội thực chất và có hiệu quả hơn

Trước hết, cấp ủy, chính quyền các cấp cần coi trọng phản biện xã hội một cách thực chất chứ không phải trên lời nói, từ đó chủ động đề xuất và phối hợp với MTTQ tổ chức lấy ý kiến phản biện một cách chu đáo, như một bước bắt buộc trong quy trình hoạch định chính sách, nhất là những dự án có diện bao phủ rộng đối với xã hội hoặc dễ gây bức xúc trong nhân dân.

Ngày 14-10-2021, tại Kết luận số 19-KL/TW về Đề án “Định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV”, Bộ Chính trị đã nhấn mạnh phải phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc nâng cao chất lượng công tác phản biện xã hội đối với quy trình lập pháp và giám sát việc thực hiện pháp luật. Theo đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần quán triệt tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị để lãnh đạo và phối hợp với MTTQ tổ chức thường xuyên và chất lượng, hiệu quả hơn nữa các hoạt động phản biện xã hội.

Cụ thể là, Chính phủ, các bộ, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp phải căn cứ vào kế hoạch xây dựng, ban hành văn bản pháp luật theo thẩm quyền, lựa chọn những dự thảo cần được phản biện và phối hợp với MTTQ cùng cấp tổ chức phản biện một cách thực chất và hiệu quả.

Để nâng cao trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên trong quá trình xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật, trong thời gian tới, Bộ Chính trị cần chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định số 217 và Quyết định số 218 để xây dựng, ban hành văn bản pháp lý cao hơn (pháp lệnh hoặc luật) về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức CT-XH. Về mặt lý luận, cần làm rõ hơn nội hàm của phản biện (giống và khác với góp ý và kiến nghị như thế nào); làm rõ hơn tính xã hội trong phản biện của MTTQ và các tổ chức CT-XH (giống và khác với tính cá nhân trong phản biện khoa học ra sao).

Mặt khác, Quyết định số 218/QĐ-TW ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành quy định “về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”, mới nêu việc MTTQ, các tổ chức CT-XH và nhân dân góp ý với tổ chức đảng trên 3 phương diện:

- Dự thảo nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy chế, quy định, kết luận... (sau đây gọi chung là quy định) của Đảng có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội; dự thảo báo cáo chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng trước mỗi kỳ đại hội.

- Việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đảng, cấp ủy, tổ chức đảng.

- Mối quan hệ giữa cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên với nhân dân.

Như vậy là chưa nhất quán với Quyết định số 217 coi “các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng” là đối tượng của phản biện xã hội. Do đó cần có một văn bản hướng dẫn cụ thể về phản biện xã hội của MTTQ và các tổ chức CT-XH đối với các dự thảo văn bản của tổ chức đảng cùng cấp, tương tự như Nghị quyết liên tịch số 403 đã quy định chi tiết về phản biện xã hội của MTTQ và các tổ chức CT-XH đối với dự thảo văn bản của các cơ quan chính quyền.

Thứ hai, MTTQ và các tổ chức CT-XH các cấp cần nhận thức rõ hơn vai trò, ý nghĩa của phản biện xã hội trong phát triển dân chủ XHCN, trong xây dựng Đảng, chính quyền để chủ động lựa chọn vấn đề và yêu cầu cấp ủy, chính quyền phải tổ chức lấy ý kiến phản biện về các vấn đề đó. Đồng thời, có trách nhiệm chọn, cử đại diện xứng đáng để nghiên cứu và thực hiện phản biện có chất lượng.

Căn cứ vào đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã ban hành Kế hoạch số 386/KH-MTTW-UB, xác định 4 nhóm nhiệm vụ trọng tâm giám sát, phản biện xã hội trong giai đoạn 2022-2025, trong đó có phản biện một số dự thảo luật. Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã đề nghị các tổ chức CT-XH đề xuất, dự kiến các chương trình cụ thể, xây dựng kế hoạch của tổ chức mình để triển khai thực hiện Kết luận số 19-KL/TW.

Như vậy, đối với MTTQ Việt Nam cũng như các tổ chức CT-XH, bên cạnh chức năng tập hợp, đoàn kết, vận động các tầng lớp, giai cấp, tổ chức, cá nhân,... cần hết sức coi trọng và tập trung vào thực hiện chức năng phản biện xã hội. Điều này lại càng cần thiết đối với MTTQ cấp Trung ương và cấp tỉnh, bởi lẽ so với cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) và trên cơ sở (huyện, quận, thị xã), MTTQ ở các cấp này có ưu thế hơn về bộ máy và nhân lực trong việc thực hiện chức năng phản biện xã hội. Với nỗ lực chung của MTTQ, các tổ chức CT-XH và các tổ chức thành viên khác sẽ thúc đẩy hoạt động phản biện xã hội trong thời gian tới ngày càng đem lại hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội.

Thứ ba, để thực hiện phản biện xã hội có chất lượng, căn cứ quy định hiện hành về phản biện xã hội, cần áp dụng mẫu thống nhất văn bản phản biện để người phản biện thể hiện rõ chính kiến về những nội dung phản biện. Phải làm sao phản biện xã hội không chỉ là góp ý của các cơ quan của Ủy ban MTTQ, lại càng không chỉ là góp ý mang tính cá nhân của chuyên gia được MTTQ mời hoặc phân công nghiên cứu, phản biện mà hơn thế, thông qua cá nhân chuyên gia phản biện, phải thể hiện được thái độ của các tầng lớp xã hội đồng tình hay không đồng tình với dự thảo chính sách, luật, quy định sắp được ban hành.

Như vậy là, cả tính phản biện và tính xã hội phải được thể hiện rõ hơn. Do vậy, cơ quan đề nghị phản biện xã hội cũng như cơ quan tổ chức phản biện (MTTQ hoặc tổ chức CT-XH) cần phải thống nhất nội dung phản biện và yêu cầu bắt buộc các thành viên phản biện phải thể hiện ý kiến đồng ý hay không đồng ý thông qua, yêu cầu sửa chữa hay không cần sửa chữa... Trên cơ sở đó, cơ quan soạn thảo văn bản phải giải trình đầy đủ mức độ tiếp thu, sửa chữa với hội đồng và thành viên phản biện trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Thứ tư, Chính phủ, UBND các cấp cần chỉ đạo xây dựng, sửa đổi chế độ kinh phí phục vụ cho hoạt động phản biện của MTTQ ở cấp Trung ương và địa phương. Bởi lẽ, không có kinh phí tương ứng thì các hoạt động cần thiết trước, trong và sau phản biện sẽ khó đạt chất lượng mong muốn./.

Tạp chí Lý luận Chính trị

Address

Số 3, Đường Lê Thanh Nghị, P. Hiến Nam, TP. Hưng Yên, Tỉnh Hưng Yên
Hung Yen
16000

Telephone

+84966861992

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhà hàng No.1 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category