Ốc Saigon

Ốc Saigon Ốc SAIGON - Hải Sản Độc Lạ - Giá Cả Dễ Thương

RUM BIỂN (HẢI QUỲ NGỌC TRAI)Rum biển là loài đặc sản rất nổi tiếng ở Nghệ An, được chế biến thành các món ăn đặc trưng, ...
11/07/2026

RUM BIỂN (HẢI QUỲ NGỌC TRAI)

Rum biển là loài đặc sản rất nổi tiếng ở Nghệ An, được chế biến thành các món ăn đặc trưng, thơm ngon, bổ dưỡng, giúp tăng bản lĩnh phái mạnh nên được rất nhiều người ưa chuộng và tìm kiếm, giá thành ngày càng tăng do khan hiếm, mang lại thu nhập cho người dân địa phương. Loài này cũng được khai thác ở Thanh Hoá (cũ), Hà Tĩnh (cũ). Ở Thái Bình (cũ), chúng có tên gọi khác là con hoa bầu.

Con rum biển thực ra là một loại hải quỳ (đa phần hải quỳ có hình dáng và màu sắc rực rỡ như những bông hoa biển) chứ không phải hải sâm như một số bài báo không có chuyên môn đã từng viết.

Hải quỳ nói chung là một nhóm động vật không xương sống, thân mềm. Tuỳ hình dạng đẹp mắt và lộng lẫy, chúng thực chất là loài săn mồi đáng gờm, họ hàng gần với san hô và sứa, sở hữu các xúc tu chứa độc tố để làm tê liệt con mồi.

Con rum biển có tên tiếng Anh là Pearly anemone (dịch nôm na là hải quỳ ngọc trai), danh pháp khoa học Paracondylactis sinensis, họ Actiniidae. Chúng là một sinh vật biển độc đáo thường được tìm thấy ở các bờ biển cát ngập triều và thảm cỏ biển được che chắn khắp khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Khi các xúc tu xòe hết cỡ, rum biển có thể phát triển đến đường kính 10cm, thân dài, óng ánh như ngọc trai vùi sâu trong cát. Vì rum sinh sống tự nhiên ở những vùng nước nông, nhiều phù sa, nên chúng thường được nhìn thấy khi thủy triều xuống ở các điểm đến ven biển nổi tiếng như Sky Mirror ở Malaysia, Singapre, Hàn Quốc…Ở Việt Nam, chúng được khai thác nhiều nhất ở Nghệ An.

Thân rum biển cắm thẳng vào lòng cát sâu đến khoảng 20cm. Chân đế chúng bám chặt lấy lòng cát hoặc đáy cứng. Miệng của chúng có hình cái phễu mở ra, xung quanh có rất nhiều các xúc tu vươn ra, lại có chất bám dính tựa như xúc tu bạch tuộc. Thân mình nhẵn và trơn, không có bất kỳ chỗ lồi lõm nào. Các xúc tu này dài, dày, thon dần, trong suốt, thường không có hoa văn và có màu be hoặc hồng nhạt. Đĩa miệng cũng thường không có hoa văn và đôi khi hơi sẫm màu hơn xúc tu. Chúng thu các xúc tu vào thân mình khi ra khỏi nước biển.

Khi có cua, ghẹ, cá nhỏ, ngao ốc, hay các loài sinh vật khác đi qua hoặc trôi theo thuỷ triều trong tầm với của rum biển, các xúc tu của chúng “bắt cóc con mồi” lại nhờ chất kết dính, dọc trên các xúc tu có các tế bào châm độc chuyên biệt làm tê liệt con mồi rồi từ từ đưa vào miệng.

Rum biển tiêu hóa thức ăn vỏ cứng bằng enzyme (ngoại bào và nội bào), sau đó đào thải chất bã ngược ra ngoài qua chính đường miệng. Khi đến gần ta phải thật khẽ không được làm động nước, là có thể quan sát được cách thức chúng bắt mồi và tiêu hóa. Chất thải của rum biển giống dạng bột đá vôi được nghiền nhuyễn như cám vậy.

Ở Nghệ An, rum biển thường xuất hiện theo mùa dọc các xã có bãi ngang tại huyện Quỳnh Lưu (cũ) như xã Tiến Thuỷ hoặc huyện Diễn Châu (cũ) như các xã Diễn Hải, Diễn Hùng, Diễn Kim... Do đó, người dân nơi đây đã hình thành nghề săn rum biển mang lại thu nhập cao.

Để bắt được rum biển, ngư dân họ thường vót một thanh tre như cái đũa, dài cỡ chừng 40 đến 50cm. Một đầu làm cán cầm, một đầu làm mũi nhọn như hình mũi tên, có làm cái mấy mấu ngạnh lại. Khi thấy miệng rum hé mở thì ta thọc mạnh vào miệng chúng. Mũi tên xuyên từ miệng xuống thân đến tận chân đế. Khi đó ta giữ thanh tre lại, và đào cát nhẹ nhàng xung quanh một chút, là rút toàn thân chúng lên được.

Con rum này bắt về làm sạch nhớt và ruột xong thì bắt đầu chế biến. Món thường làm nhất ở Nghệ An là xào với trái chuối xanh, lá lốt, trái sung non, hay om với củ chuối hột non bào mỏng thái sợi thì tuyệt ngon. Chỉ tội làm mất nhiều công, lại tanh nên ít người bắt về làm để ăn. Bây giờ nhìn lại rum biển đưa vào nhà hàng thành món đặc sản.

Theo y học, rum biển có vị mặn, tính ấm, vào hai kinh tâm và thận; tác dụng bổ thận, tráng dương, ích tinh, dưỡng huyết, nhuận táo, chống lão hóa, giảm ho, tiêu độc, cầm máu... Rum biển thường được dùng trong các trường hợp tâm khí hư, thận khí suy, khí huyết kém, suy nhược cơ thể... Ngoài ra, rum biển còn được chế biến thành nhiều món ăn ngon như gỏi rum biển, rum om chuối, rum xào thập cẩm… cùng gia vị vườn nhà như lá tía tô, lá lốt ...

(Tổng hợp)

Cá hồng tiên (cá sơn tiên, cá mú cầu vồng) là một loài cá khá hiếm ở Việt Nam, do sống vùng nước sâu, lạnh, sở hữu màu s...
23/06/2026

Cá hồng tiên (cá sơn tiên, cá mú cầu vồng) là một loài cá khá hiếm ở Việt Nam, do sống vùng nước sâu, lạnh, sở hữu màu sắc rực rỡ, bắt mắt.

- Tên tiếng Anh: Sunrise Perch, Schlegel’s red bass, Pink maomao, red chicken grunt
- Tiếng Nhật: Akaisaki (赤斑魚、赤伊佐磯)
- Tiếng Đài Loan: 許氏菱齒花鮨、花鱸、紅魚、石斑 (臺東)
- Tiếng Trung Quốc: 许氏菱牙鮨
- Tiếng Hàn: 붉벤자리

Danh pháp khoa học: Caprodon schlegelii (Günther, 1859)

Cá hồng tiên (Akaisaki) sinh sống chủ yếu ở vùng cận nhiệt đới thuộc Thái Bình Dương: phân bố nhiều ở phía nam trung tâm Honshu - Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Úc, Hawaii và Chile, ở Việt Nam thi thoảng bắt gặp ở miền trung. Chúng sống ở đáy cát sỏi có độ sâu 50-200m. Chiều dài toàn thân tối đa khoảng 40cm.

Đầu và thân cá dẹp. Có 2 g*i trên nắp mang. Vây lưng có 1 hoặc nhiều đốm đen ở cá đực và 3-4 đốm sẫm màu không rõ ràng ở lưng trên ở cá cái. Cá đực có màu đỏ cam và vàng cam trên thân. Các tia vây lưng thẳng hàng và vây đuôi tròn ở cuối, không có rãnh giữa sâu, chỉ có các rãnh nhỏ ở trên và dưới ở cá đực, và có một rãnh giữa rất yếu ở cá cái. Con non sống gần bờ biển, gần các rạn san hô, trên đáy cát hoặc đá.

Cá hồng tiên có lẽ được biết đến nhiều hơn với vai trò là loài cá đánh bắt làm cảnh hơn là cá thực phẩm, và mặc dù nó có tên tiếng Nhật ám chỉ vị giống thịt gà (Isaki), nhưng chúng là một thành viên của họ cá mú (Hata). Thịt cá có độ dai ngọt vừa phải và ít béo. Ở Nhật Bản, chúng chủ yếu được chế biến thành sashimi hoặc hấp.

Cá lươn đuôi kiếm được người dân địa phương gọi với nhiều tên khác nhau cá mú trê, cá mú chạch, cá lươn râu, cá chình râ...
02/06/2026

Cá lươn đuôi kiếm được người dân địa phương gọi với nhiều tên khác nhau cá mú trê, cá mú chạch, cá lươn râu, cá chình râu… bởi vì hình dáng chúng khá kỳ lạ: là cá biển nhưng râu ở đầu giống cá trê nhưng lại có vảy mịn, hình dáng đầu và vây lại giống cá mú, trong khi đuôi khiến mọi người hình dung là đuôi của cá trê hoặc cá chạch.

Tên tiếng Anh: Beard brotula, Atlantic beard brotula Danh pháp khoa học: Brotula barbata
Chi: Brotula
Họ: Ophidiidae
Bộ: Ophidiiformes

Xin nói thêm, cá lươn đuôi kiếm là một loài “cusk eel”. Cusk eel là tên gọi chung của một nhóm cá thuộc bộ Ophidiiformes, thường được gọi tiếng Việt là cá lươn biển giả hoặc cá chạch biển. Mặc dù tên có chữ eel (lươn), chúng không phải là lươn thật.

Đặc điểm:
* Thân dài, thuôn giống lươn.
* Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn nối liền nhau.
* Sống chủ yếu ở biển, nhiều loài sống ở vùng nước sâu.
* Thường ẩn mình trong hang hốc hoặc đáy biển.

Một số loài cusk eel được khai thác làm thực phẩm, ví dụ:
* Pink cusk-eel (Genypterus blacodes), còn gọi là ling ở New Zealand.
* Các loài thuộc họ Ophidiidae (cá mú trê thuộc họ này)

Cá lươn đuôi kiếm sinh sống chủ yếu ở Đại Tây Dương, ở độ sâu lên đến 300m. Tuy nhiên ở Việt Nam, chúng cũng xuất hiện rải rác từ Phú Yên đến Quảng Ngãi. Màu sắc của chúng thay đổi từ nâu ô liu đến nâu đỏ, có thể phát triển đến chiều dài khoảng 50cm. Đây là loài ăn thịt và đẻ trứng.

Chúng thường phát triển đến chiều dài 50cm, nhưng mẫu vật đã từng thu được dài gần 100cm. Trọng lượng cao nhất được công bố của một mẫu vật là 8.5kg.

Phần trước của cơ thể cá hơi sâu, thon dần về phía sau. Vảy nhẵn và tương đối nhỏ, bao phủ toàn bộ cơ thể. Chúng có 12 râu: 6 ở mõm và 6 ở cằm, vây đuôi nhọn.

Loài cá lươn này đôi khi có đốm hoặc tàn nhang. Nhìn chung, chúng thường có màu nâu, một số cá thể có màu gần ô liu hơn và một số khác có màu gần đỏ hơn.

Những con cá có râu này là loài ăn thịt. Chúng chủ yếu ăn cá nhỏ hơn và động vật giáp xác sống ở vùng nước nông, bao gồm cua và tôm. Chúng đẻ trứng và đẻ một lượng lớn trứng cùng một lúc, có độ đặc giống như thạch. Ấu trùng của loài này sống ở tầng nổi.

Cá lươn đuôi kiếm chỉ sống ở môi trường biển. Chúng có thể sống ở độ sâu tới 650m, nhưng phổ biến nhất là ở độ sâu từ 50 – 300m. Cá thể trưởng thành sống ở tầng đáy và tầng giữa, chủ yếu sinh sống ở đáy biển cát và bùn. Cá non thường sinh sống ở các rạn san hô nông.

Đây là loài cá đặc sản, hiếm có và sở hữu thịt trắng, ngọt, dẻo, dai và thơm ngon, rất phù hợp với món nấu canh chua và kho keo.

(Tổng hợp)

Tôm gân (Quảng Ngãi gọi), tôm bộp (Khánh Hoà gọi) hoặc tôm chì (Vũng Tàu hoặc miền tây gọi) chính là loài tôm thẻ có tên...
07/05/2026

Tôm gân (Quảng Ngãi gọi), tôm bộp (Khánh Hoà gọi) hoặc tôm chì (Vũng Tàu hoặc miền tây gọi) chính là loài tôm thẻ có tên “chính ngạch” trong sách vở là tôm thẻ đuôi đỏ hay tôm thẻ Ấn Độ.

Tên tiếng Anh của chúng là Indian white prawn hoặc Red leg prawn, danh pháp khoa học là Fenneropenaeus indicus (đồng nghĩa với Penaeus indicus).

Cũng giống như tôm thẻ chân trắng, tôm thẻ đuôi đỏ lúc còn nhỏ thường sinh sống ở gần bờ hoặc cửa biển. Đến khi chúng trường thành, sẽ di chuyển ra biển. Sống với độ sâu 90m, đặc biệt yêu thích ở những bơ bùn hoặc bùn cát dưới đáy biển. Một con tôm thẻ Ấn Độ trưởng thành sẽ có chiều dài lên đến 22cm.

Đặc điểm sinh học

Chủy dạng sigma vượt quá mắt, ngọn chủy thấp. Rãnh bên chủy không kéo dài đến g*i thượng vị.

Sóng gan và sóng vùng vị trán không có. Sóng vùng vị hốc mắt rõ ràng chiếm từ 2/3 phiá sau khoảng cách giữa g*i gan và bờ sau hốc mắt.

Ở con đực trưởng thành có đốt Dactylus ở chân hàm III có dạng bình thường, chiều dài Dactylus bằng 0,85 - 1 lần chiều dài đốt Propodus.

Chân ngực III vượt quá vảy râu một đoạn ít nhất bằng đốt Propodus.

Đường sóng lưng có từ đốt bụng thứ IV-VI.

Màu sắc: Cơ thể màu trắng hơi trong, điểm những chấm sắc tố xanh, đen, lục nhạt. Chân đuôi (Telson) có màu lục nhạt, rìa chân đuôi viền những lông tơ màu đỏ tía. Có sắc tố xanh ở rìa chân hàm (maxilliped) và chân bụng. Chân ngực có màu đỏ hồng.

Phân bố

Trên thế giới : Ấn độ -Tây Thái bình dương: Đông và đông nam châu phi tới Nam Trung quốc, qua Malaysia và Indonesia đến New Guinea, bắc Úc và Việt nam.

Trong nước: Phân bố chủ yếu ở ven biển các tỉnh miền trung từ Quảng Ngãi đến Khánh Hoà và ở Nam bộ: sông Cửa lớn, Ông Trang, Bảy Háp, sông ông Đốc, Khánh hội, Kim Qui, Xẻo Nhào, Hòn chông và Hà Tiên.

Tập tính

Độ sâu từ 2-90 m hay hơn, chất đáy bùn, cát. Con non sống ở vùng cửa sông, vực nước cạn giống như loài Penaeus merguiensis, là loài có số lượng phong phú ở khu vực gần bờ đông, Tây Nam bộ và Nam Trung bộ.

Tôm gân (tôm bộp, tôm chì) sống ở vùng đáy biển cát cho chất lượng vượt trội hơn hẳn ở đáy bùn: thịt rất ngọt và dai giòn, phảng phất vị cua. Vị thịt của chúng ngọt hơn cả tôm sú biển.

Ngoài lề:

Trong số các loại tôm thẻ như tôm thẻ bạc, tôm thẻ chân trắng, tôm thẻ đuôi đỏ…., thì tôm thẻ chân trắng được nuôi nhiều nhất tại Việt Nam. Chính vì vậy mà loại tôm này được bán khắp nơi. Tuy nhiên, do nhu cầu sử dụng và yếu tố dinh dưỡng. Nhiều người lại yêu thích tôm thẻ biển hơn.

Bạn có thể phân biệt được tôm thẻ nuôi và tôm thẻ biển như sau:

Tôm thẻ biển:
- Màu sắc: Do bản chất sinh sống tại biển, nên màu của tôm thẻ biển sẽ nghiêng về sáng bóng, trơn mượt và có chút ánh vàng đẹp mắt.
- Kích thước: Tôm thẻ biển có kích thước nhỉnh hơn một chút. Một con tôn trưởng thành dài khoảng 22cm.
- Hương vị: Hương vị tôm biển đậm đà, ngon, dai ngọt tự nhiên hơn tôm nuôi.
- Giá cả: Tôm biển khó đánh bắt hơn, lại có kích thước nhỉnh nhau, nhu cầu mua nhiều hơn nên sẽ có giá cao hơn so với tôm nuôi.

Tôm thẻ nuôi:
- Tôm thẻ nuôi có màu ánh xanh đặc trưng.
- Tôm thẻ nuôi có kích thước nhỏ hơn.
- Tôm nuôi có thớ thịt săn chắc, thịt tôm ngọt, thơm, ăn không bị bở.
- Tôm nuôi có giá thấp hơn so với tôm biển.

Dinh dưỡng có trong tôm thẻ

Tôm thẻ cung cấp một lượng lớn Protein, Omega 3, Canxi,... và một số chất dinh dưỡng thiết yếu có lợi cho sức khỏe. Vitamin B12, Vitamin A, sắt hỗ trợ quá trình trao đổi chất. Trong đó, Selen và Omega 3 là hai chất có khả năng tấn công, ngăn chặn tế bào ung thư.

Tuy nhiên, không phải vì giá trị dinh dưỡng nhiều như vậy, mà bạn lại dung nạp nhiều tôm thẻ trong thời gian dài. Theo các nghiên cứu của chuyên gia dinh dưỡng, trung bình mỗi ngày, mỗi người chỉ cần hấp thụ 100g tôm là được. Còn với trẻ em, cần giảm một nửa, múc 20 - 50g.

Nếu ăn quá nhiều tôm, sẽ gây ra phản ứng ngược, chất dinh dưỡng sẽ được hấp thụ ít đi. Thêm vào đó là tình trạng khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, đầy bụng, thậm chí là tiêu chảy. Lưu ý, khi ăn nên bỏ vỏ tôm nhé!

Lưu ý, khi ăn nên bỏ vỏ tôm nhé! Bởi vì nhiều khách hàng luôn suy nghĩ canxi của tôm nằm tập trung tại phần vỏ. Tuy nhiên, điều này được cho là quan niệm sai lầm. Bởi vỏ tôm rất cứng, sẽ gây khó khăn cho dạ dày khi tiêu hóa, ngoài ra chúng còn chứa độc tố gây hại.

Cách lựa chọn tôm thẻ tươi

Nếu bạn đang băn khoăn không biết nên lựa chọn tôm thẻ nào cho tươi ngon, thì hãy áp dụng một số cách dưới đây nhé:

- Lựa chọn mua những con tôm còn sống, tôm đang bơi. Như vậy bạn không cần đắn đo về mức độ tươi sống của tôm.

- Dựa vào màu sắc của tôm để phân biệt: Tôm tươi thường có màu xanh hoặc ánh vàng, con tôm nhìn rất bóng, không một dấu hiệu trầy xước.

- Khi cầm nắm tôm, bạn chú ý rõ phần cổ tôm. Đầu tôm gắn với thân tôm không được lỏng lẻo, hay rụng rời bộ phận. Tôm tươi phải còn nguyên vẹn đầu, thân, đuôi và chân.

- Bạn có thể kiểm tra tôm tươi hay ươn qua các khớp trên thân tôm. Nếu cầm con tôm không chắc tay, các khớp lỏng lẻo thì đó chắc chắn là con tôm ươn. Nhưng nếu thấy các khớp tôm cứng cáp, không bị giãn ra nhiều thì đó là tôm tươi.

- Kiểm tra độ đàn hồi của tôm. Con tôm tươi có độ đàn hồi tốt, khi cầm rất chắc tay. Không quá mềm cũng không quá cứng. Trái lại với những con tôm ươn, chúng sẽ rất mềm, cứng và không hề có độ đàn hồi.

- Hoặc nếu bạn thấy con tôm không có màu đặc trưng, thay vào đó là màu ngả đỏ hay màu đen hoặc có mùi hôi khó chịu. Cộng với việc tôm tiết ra các chất giống dịch nhầy, có mùi tanh nồng thì đừng mua nhé. Vì đó là những con tôm đã chết từ lâu và đã mất hết chất dinh dưỡng.

Tóm lại, tôm thẻ là loại hải sản được vô số người yêu thích, xuất hiện trong các mâm cơm gia đình từ Bắc đến Nam. Trên đây là toàn bộ thông tin về các loại tôm thẻ và các chọn tôm tươi khi mua. Hy vọng bài viết này có thể cung cấp cho bạn những thông tin hữu ích mà bạn đang quan tâm.

(Tổng hợp)

Cá khế vây dài (tên phổ biến hơn: cá bè lem, bè đốm, bè diễn)Tên tiếng Anh: Longfin trevally, Armed trevallyTên tiếng Nh...
14/04/2026

Cá khế vây dài (tên phổ biến hơn: cá bè lem, bè đốm, bè diễn)

Tên tiếng Anh: Longfin trevally, Armed trevally
Tên tiếng Nhật: Yoroi aji, Hishihira-aji, Hishi-yoroi-aji
Tên tiếng Bangladesh: Lomba pakhna mouri (লম্বা পাখনা মৌরি)

Danh pháp khoa học: Carangoides armatus

Cá khế vây dài (Carangoides armatus), còn được gọi là cá bè lem, bè diễn, bè đốm…là một loài thuộc họ Carangidae, thường được biết đến với tên gọi chung là cá khế hoặc cá bè biển. Loài này phổ biến ở các vùng nhiệt đới đến cận nhiệt đới của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, trải dài từ Nam Phi đến Nhật Bản và thường sinh sống ở các rạn san hô và vịnh ven biển. Chúng có thể dễ dàng được nhận biết bởi các thùy vây lưng và vây hậu môn dài, các tia vây lưng dạng sợi và đặc điểm ngực không vảy.

Cá khế vây dài là loài săn mồi sống ở tầng mặt, ăn nhiều loại cá nhỏ, động vật thân mềm và giáp xác, đạt đến độ trưởng thành sinh dục ở khoảng 21cm. Cá thể lớn nhất được ghi nhận đạt chiều dài 57cm và nặng 7kg. Phân loại học của loài này khá phức tạp, có liên quan chặt chẽ với Carangoides ciliarius, và cuối cùng có thể được xác định là đồng nghĩa.

Trong chi Carangoides, cá khế vây dài có nhiều điểm chung với các loài cá khế khác và thuộc bộ Carangiformes. Về mặt hình thái, cá khế vây dài có cấu trúc cơ thể điển hình của cá khế – sâu và dẹp theo chiều ngang. Được đặc trưng là loài cá cỡ trung bình, nó có thể phát triển đến 57cm. Đáng chú ý, cá trưởng thành có đầu dốc từ miệng đến gáy. Một mí mắt mỡ yếu che một phần mắt, và răng hình lông tơ nằm dọc theo cả hai hàm, trong khi một số cá thể lớn hơn có răng hình nón nhỏ.

Lược mang của loài này, với số lượng từ 30 đến 37 trên cung mang thứ nhất, là một đặc điểm nhận dạng. Vây lưng chia thành hai đoạn: đoạn thứ nhất có 13 g*i và đoạn thứ hai có một g*i theo sau là 19 đến 22 tia mềm. Vây lưng thứ hai thể hiện sự dị hình giới tính; ở cá đực trưởng thành (dài hơn 21cm), 3 đến 12 trong số các tia mềm trung tâm kéo dài thành sợi. Vây hậu môn gồm hai g*i tách rời ở phía trước, tiếp theo là một g*i đơn và 16 đến 18 tia mềm, với các thùy vây rõ rệt. Đường bên được phân chia thành các đoạn cong và thẳng, lần lượt có 57 đến 77 và 25 đến 43 phần tử, phần thẳng gồm 11 đến 24 vảy yếu. Đặc điểm nổi bật là phần ngực không vảy, đặc điểm giải phẫu này kéo dài từ gốc vây chậu đến gốc vây ngực và đến nắp mang.

Màu sắc của cá khế vây dài thay đổi theo tuổi, thường có màu xanh xám ở lưng, chuyển dần sang màu trắng bạc ở bụng. Cá con có màu xanh bạc rõ rệt hơn với sáu vạch ngang sẫm màu có thể nhìn thấy. Có một đốm đen rõ rệt ở mép trên của nắp mang. Các vây có màu sắc khác nhau: vây lưng thứ nhất có màu từ xám nhạt đến đen, trong khi vây lưng thứ hai và vây hậu môn có màu trong suốt đến đen. Vây ngực có màu trong mờ, vây bụng chủ yếu màu đen với viền trắng ở đầu, và vây đuôi trong mờ với viền sẫm màu ở cuối.

Về mặt địa lý, cá khế vây dài sinh sống ở Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương, trải dài từ Đông London (Nam Phi) đến Nhật Bản. Phổ biến ở Biển Đỏ và Vịnh Oman, loài này sống ở môi trường ven biển gần bờ hơn là ra khơi, và sinh sống ở cả hai độ sâu của cột nước. Chủ yếu được tìm thấy dọc theo các bờ biển đá và san hô, cá khế vây dài sinh sống ở các cấu trúc rạn san hô, đơn độc hoặc theo nhóm nhỏ, và thường xuyên xuất hiện ở các vịnh cát và đầm phá. Cá con sử dụng cửa sông làm khu vực sinh sản.

Cá khế vây dài là loài săn mồi tích cực, chúng ăn nhiều loại cá nhỏ, động vật thân mềm và giáp xác, với các lược mang dài giúp chúng tiêu hóa được các sinh vật nhỏ. Chúng thường đạt đến độ trưởng thành sinh dục khi dài từ 21 đến 22cm, mặc dù hành vi sinh sản của chúng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Mặc dù không phải là mục tiêu chính của ngành đánh bắt cá thương mại do sự hiếm hoi của chúng, cá khế vây dài đôi khi vẫn bị đánh bắt và bán tươi sống tại các chợ địa phương. Chúng được đánh giá cao như một món ăn ngon, đặc biệt là ở Thái Lan và Campuchia, người dân thường hấp hoặc chiên. Hoạt động câu cá giải trí ở Nam Phi thu được một lượng nhỏ, thường bằng cần câu từ thuyền hoặc bằng cách săn bắt bằng lao.

Riêng ở Việt Nam, cá khế vây dài được người dân hay gọi bằng các tên như cá bè lem, bè đốm, bè diễn, là một loài cá hiếm, chỉ có ở miền trung. Đặc biệt size từ 3kg/con trở lên cực kỳ hiếm.

Đây là một loài cá thịt phải nói là siêu ngon: rất béo, mềm ngọt và có vị thơm đặc trưng khác biệt. Có thể chế biến đủ kiểu: ăn sống sashimi, hấp, chiên, nướng, lẩu…Người Nhật cũng rất chuộng loại cá này dùng trong sashimi, tuy nhiên chúng hiếm quá.

(Tổng hợp)

Address

142, Đường 17, Phường An Phú, Quận 2, TP. HCM
Ho Chi Minh City

Telephone

+84901202030

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ốc Saigon posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share