03/05/2022
VÀI GÓC NHÌN TRIẾT HỌC VỀ VIỆC ĂN NGON
Các bậc phụ huynh ngày nay theo tôi quan sát, đã có sự chuyển biến rất lớn với cách đối xử với con cái, rằng họ chẳng còn quan tâm gì nhiều đến việc mà con cái họ sẽ làm, chỉ cần chúng vui vẻ và hạnh phúc là đủ. Hạnh phúc gần như đã được định hình là món quà quý giá nhất của con người trong vũ trụ này (trừ những loại hạnh phúc “không lành mạnh”). Tuy vậy, khi tôi ăn ngon tôi cảm thấy hạnh phúc, nhưng một người bạn lại nói rằng những món ăn đó chỉ tầm thường. Sự bất đồng này khiến tôi nhiều lần tự đặt ra câu hỏi, liệu thú vui hạnh phúc của chúng ta có đều giống nhau hay không, dù là về tinh thần hay thể xác? Tại sao lại có người hạnh phúc đến tột cùng trong việc ăn ngon nhưng có những người chỉ thấy hạnh phúc vừa vừa, có một thước đo vô hình nào đó trong việc này chăng?
Nếu nói đến hạnh phúc không thể không nói đến thuyết vị lợi (Utilitarianism) - một dạng tư tưởng đạo đức đặc biệt phổ quát trong thế giới hiện đại, nhất là đối với kinh tế học. Thuyết vị lợi đề cao “lợi ích”, mà ở đây tôi sẽ nói đó là hạnh phúc, và nó cho rằng hành động đúng đắn là những hành động làm gia tăng hạnh phúc và giảm bớt đau khổ, hành động sai trái sẽ làm điều ngược lại. Tuy vậy những triết gia ban đầu của thuyết vị lợi cũng không đồng tình về việc phân chia thứ hạng cho niềm vui và sự hạnh phúc mà họ theo đuổi. Jeremy Bentham tin rằng mọi niềm vui đều đồng đều và có chất lượng như nhau. Ông viết trong “The Rationale of Reward” (năm 1825) rằng “niềm vui khi chơi trò push-pin cũng ngang bằng với niềm vui trong nghệ thuật, âm nhạc hay khi làm thơ”. Hậu bối của Bentham là John Stuart Mill lại bày tỏ sự không đồng tình khi ông viết trong “Utilitarianism” (năm 1863) rằng “thà rằng làm một người bị đối xử tồi tệ còn hơn là làm lợn mà được đối xử tốt, cũng như thà làm một Socrates bị phỉ báng còn tốt hơn một kẻ ngốc được tôn vinh”. Mill không phải là người đầu tiên phân định mức độ cao thấp của hạnh phúc, Aristotle cũng từng có những trang viết giống vậy và ông chỉ trích những cơ quan xúc giác và vị giác là những “cơ quan đặc quyền thô thiển của loài người”, và rằng việc thoả mãn có được do ăn uống hay làm tình là thứ niềm vui thấp hèn hơn những niềm vui mà bạn phải sử dụng trí óc mới đạt được.�Nếu vậy, tôi sẽ giải mã vấn đề lúc đầu từ bàn ăn, nơi mà ăn uống cũng như tình dục, bị xem là những thú vui thấp kém. Tất cả động vật bao gồm cả con người đều phải ăn và uống, sử dụng khứu giác và vị giác để cảm nhận mùi và vị. Việc ăn uống không đòi hỏi một hệ thống phức tạp nào để điều khiển hay nhận định thứ gì là ngon hay dở, chỉ có ăn được hay không ăn được. Việc ăn uống được các triết gia định nghĩa chúng chỉ đơn thuần thoả mãn ham muốn nguyên thuỷ của con người, Plato cũng cho rằng việc nấu ăn vì vậy không bao giờ là một nghệ thuật, vì “việc nấu ăn không cống hiến cho tự nhiên cũng như chỉ để thoả mãn bản thân”.
Lật tiếp 2 thiên niên kỷ, cuốn sách ưa thích của tôi “The Philosophy of Taste” (năm 1825) của Jean Anthelme Brillat-Savarin viết rằng “động vật cho thịt, còn con người thì ăn chúng, chỉ có loài người với trí tuệ của mình mới biết cách ăn như thế nào”. Không rõ Brillat-Savarin có ý bác bỏ Plato hay không, tuy nhiên rõ ràng ăn uống là một hoạt động phức tạp không như Plato miêu tả. Đơn giản như việc đi mua nguyên liệu nấu ăn cũng phải suy nghĩ rất nhiều, cho đến việc nấu ăn, cách kết hợp nguyên liệu và mùi vị, kết hợp cấu trúc, các kỹ năng nấu nướng để bảo toàn dinh dưỡng,… cuối cùng mới dẫn đến bàn ăn, nơi việc ăn sẽ tổng hoà mọi yếu tố trên, có thêm vào yếu tố thẩm mỹ trong cách trình bày dĩa thức ăn.
Quay lại với tựa đề, đến đây có thể tôi đã phần nào diễn giải được việc “vui ít vui nhiều” khi ăn uống, rõ ràng nó không phải vấn đề “bạn ăn gì” mà nó là vấn đề “bạn ăn nó như thế nào”. Nếu chỉ cúi gằm mặt xuống dĩa như những chú lợn trên máng ăn là một kiểu thoả mãn thấp hèn như Bentham mô tả. Giống như việc làm tình như cách diễn giải của Brillat-Savarin, “con vật thì giao phối, con người thì làm tình”. Hay một cô gái đi đến buổi hoà nhạc opera chỉ để người khác nhìn thấy cô trong bộ đồ hàng hiệu thì cô ta đã bỏ lỡ sự thoả mãn cao nhất mà âm nhạc mang lại, mà đắm chìm trong sự thoả mãn thấp nhất của sự phù phiếm.
John Stuart Mill đã đúng khi cho rằng hạnh phúc cũng có mức độ cao thấp, tuy nhiên ông đã nhầm lẫn khi nghĩ rằng con người có thể phân biệt được chúng dựa trên "thứ" mà ta hưởng thụ, chính xác nó phải là "cách" mà ta hưởng thụ. Tuy vậy đa số cũng đều nhầm lẫn như Mill, vì rõ ràng có những thứ trong cuộc sống phải được hưởng thụ bằng những cách tỉ mỉ hơn, trân trọng hơn những thứ còn lại. Thí dụ như bức tranh của Mai Trung Thứ phải được cảm thụ ở mức độ cao hơn là cảm thụ một dĩa cơm tấm chẳng hạn, tuy vậy rất nhiều người trong chúng ta cảm thấy ăn cơm tấm vẫn vui hơn là được xem tranh, và người ta có quyền nhạo báng bạn. Tuy vậy nếu bạn thực sự tỉ mỉ và tận hiến trong việc cảm thụ khi ăn cơm tấm, bạn có thể chẳng sợ gì những lời nhạo báng như vậy. Sự nhầm lẫn này cũng phản biện lại tư tưởng sai lệch về cơ chế tự nhiên của loài người, rằng chỉ trí tuệ ưu việt và tâm hồn mới làm chúng ta trở thành “người”, trong khi thân thể phàm tục chỉ là vật hèn mọn chứa đựng trí tuệ của chúng ta. Khi nào chúng ta học được cách hưởng thụ những niềm vui thuộc về thể xác trong niềm hân hoan của cả xác thịt lẫn tâm hồn giống như cách mà các giác quan được kết nối với nhau, lúc đó chúng ta mới thoát khỏi suy nghĩ cố hữu rằng chúng ta chỉ là những linh hồn bị nhốt trong thân xác tồi tàn chỉ chờ ngày vĩnh biệt. Thoát khỏi suy nghĩ đó, để cho tâm hồn, thân thể, con tim lẫn khối óc mới thông tuệ, tận hiến trong mọi sự hưởng thụ, lúc đó chúng ta đã đặt một viên gạch lẫm liệt trên con đường “thành người”.
J.H.